baihayonline@gmail.com

Có ý kiến cho rằng bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn chính luận mẫu mực anh chị hãy làm rõ ý kiến trên.

Nhắc đến Hồ Chí Minh không chỉ nhắc đến vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một tác gia lớn với gia tài đồ sộ. Từ thể loại văn chính luận, thơ cho đến kí ở mỗi thể loại Người đều để lại dấu ấn riêng. Và tác […]

Nhắc đến Hồ Chí Minh không chỉ nhắc đến vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một tác gia lớn với gia tài đồ sộ. Từ thể loại văn chính luận, thơ cho đến kí ở mỗi thể loại Người đều để lại dấu ấn riêng. Và tác phẩm Tuyên ngôn độc lập được coi là một áng văn chính luận mẫu mực của văn học Việt Nam.

Sau khi nhân dân ta giành lại được chính quyền, ngày 26/8/1945  Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách mạng Việt Bắc về Hà Nội. Và Người đã soạn thảo ra bản “Tuyên ngôn độc lập” tại số nhà 48 hàng Ngang. Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội trước hàng chục vạn đồng bào, Người đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”. Tác phẩm thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc sảo xứng đáng là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại.

Ngay từ phần mở đầu của tác phẩm tác giả đã nêu lên những chân lý vĩnh cửu về quyền tự do độc lập của dân tộc quyền sống của con người. Đều này đã được thừa nhận qua nhiều thời kì lịch sử ở ngay những quốc gia mà bấy giờ chính quyền của họ đã và đang đi ngược với nguyên tắc ấy. Là nguyên nhân gây nên lầm than cơ cực cho con người VIệt Nam. Để chắc chắn cho lập luận này của mình Bác đã trích dẫn hai bản tuyên ngôn độc lập của Pháp và Mỹ. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm  1976 có đoạn trích : “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Còn trong bản tuyên ngôn của Pháp có đoạn: ” Người ta sinh ra tự do bình đẳng về quyền lợi và phải luôn tự do bình đẳng về quyền lợi”. Đây là những lẽ phải đã được công nhận mà không ai có quyền bác bỏ. Thế nhưng, chính quyền của họ đã đi ngược lại điều đó. Điều thông minh của Bác Hồ đó là thủ pháp dùng gậy ông đập lưng ông dùng chính luận điệu của họ để chống lại họ.  Việc sử dụng dẫn chứng là 2 bản tuyên ngôn độc lập của Pháp và Mỹ cho thấy Bác đã tạo nên một vị thế ngang hàng với các nước kia. Thể hiện quyền bình đẳng tự do của con người là như nhau. Từ đó đưa ra cơ sở pháp lý làm tiền đề cho việc khẳng định độc lập chủ quyền tự do của dân tộc VIệt.

Sang phần thứ hai, Hồ Chí Minh đã sử dụng thao tác lập luận với những lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng hùng hồn để bác bỏ luận điệu “khai hóa”, “bảo hộ” của thực dân Pháp trên hai phương diện chính trị và kinh tế. Về chính trị chúng lập ba chế độ khác nhau ở Bắc, Trung, Nam để ngăn cản việc thống nhất đất nước của ta. CHúng lập nhà tù nhiều hơn trường học, chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống của ta suy nhược….

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu…. Hàng loạt tội ác của thực dân pháp đã được Người chỉ ra tạo nên điệp khúc đầy nhức nhối và căm phẫn. Với việc sử dụng cách diễn đạt đầy hình tượng này, tác giả đã góp phần lột trần sự dã man tàn bạo của thực dân. Đồng thời cũng diễn tả nỗi đau thê thảm của nhân dân ta những người vô tôi đang quằn quại trong vòng tử địa.

Chưa dừng lại ở đó, người còn đưa ra dẫn chứng lịch sự để bác bỏ giọng điệu sai trái, gian xảo của Pháp rằng chúng đã có công bảo hộ nước ta. Để bác bỏ luận điệu đó, tác phẩm đã dùng sự thật lịch sử để thuyết phục khi năm 1940 chúng quỳ gối dân nước ta cho Nhật, đến năm 1945 Nhật hất cẳng pháp. Chứng tỏ trong 5 năm qua chúng đã nhẫn tâm bán nước ta 2 lần.

Sau khi đưa ra hàng loạt luận điểm với lí lẽ chặt chẽ Bác đã đưa ra lời khẳng định và tuyên bố “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Thể hiện giọng điệu chắc chắn về quyền tự do, độc lập của dân tộc. Lời tuyên bố đánh thép đó được xây dựng nên từ cơ sở pháp lý và thực tiễn.

Có thể nói cho đến ngày hôm nay Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh vẫn xứng đáng là văn kiện lịch sử vô giá, áng văn chính luận mẫu mực. Tác phẩm không chỉ có giá trị lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam mà còn giá trị nhân đạo nhân văn sâu sắc.

Bài liên quan