baihayonline@gmail.com

Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng

Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng: Thơ Quang Dũng hào hoa, lãng mạn, hồn thơ phóng khoáng, có cách cảm nhận tinh tế về thiên nhiên, đất nước, con người. “Tây Tiến” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông…

Trong nền văn học nước nhà, thơ ca cách mạng luôn được coi là một tài sản vô giá, bởi nó ghi dấu lại chặng đường lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc. Đặc biệt vào thời kì kháng chiến, với cảm hứng yêu nước, thi ca đã hun đúc nên biết bao anh hùng chiến đấu trên nền thiên nhiên kì vĩ của non sông, đã tạo dựng nên biết bao bức tranh thiên nhiên và con người chiến đầu hùng tráng. Trong số đó không thể không nhắc đến Tây Tiến, tác phẩm tiêu biểu trong đời thơ của Quang Dũng, để lại ấn tượng với người đọc bởi đã làm nên bức tranh rừng núi Tây Bắc chân thật trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước hùng vĩ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Quang Dũng là một gương mặt tiêu biểu của nền thi ca Việt Nam hiện đại nói chung và văn học kháng chiến nói riêng. Ông là một nghệ sĩ đa tài: Vẽ tranh, soạn nhạc, viết kịch, làm thơ, nhưng người đọc nhớ đến ông nhất với tư cách là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hào hoa, lãng mạn, hồn thơ phóng khoáng, có cách cảm nhận tinh tế về thiên nhiên, đất nước, con người. “Tây Tiến” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông, lấy cảm hứng từ nỗi nhớ về binh đoàn Tây Tiến, một đơn vị bộ đội có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, đánh tiêu hao lực lượng quân địch ở một số vùng trong đó có vùng gần biên giới. Đó là vùng núi Tây Bắc hiểm trở. Bài thơ được Quang Dũng viết bên bờ sông Đáy hiền hòa Tại Phù Lưu Chanh trong nỗi nhớ miên man về đơn vị quân đội cũ. Bài thơ ban đầu được đặt tên là “Nhớ Tây Tiến”, sau đó thành Tây Tiến in trong tập tập “Mây Đầu Ô”, đã khắc họa được vẻ đẹp của những người lính trên nền thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng.
Đoạn thơ trên nằm ở phần giữa của bài, được Quang Dũng Vậy vẽ nên bức tranh phong phú độc đáo về đêm liên hoan văn nghệ ấm áp tình quân dân cùng với bức tranh sông nước Tây Bắc. Bốn câu thơ đầu mở ra đêm liên hoan văn nghệ hệ đầy ánh sáng và ấm áp tình người:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Ngay câu thơ đầu tiên đã bừng lên ánh sáng rực rỡ, khiến cho cả đoạn thơ mang một màu sắc sáng lạn dù cho ngay trong màn đêm. Tác giả sử dụng từ Hán Việt “doanh trại” để miêu tả chỗ ở của người lính khiến nó trở nên hoành tráng hơn. Thực ra những con người ấy vẫn sống trong hoàn cảnh vất vả, thiếu thốn. Quang Dũng viết vậy để làm xóa mờ đi sự khó khăn trên chặng đường hành quân. Từ “bừng” được coi là nhãn tự của câu thơ, nó vừa gợi thứ ánh sáng bất ngờ, đột ngột vừa gợi sự thú vị. Cả cảnh vật và con người như bừng sáng. Nó làm bừng lên cả một đêm liên hoan văn nghệ làm rộn ràng cả một đoạn thơ. Bừng lên đầu tiên là ở ánh sáng, đêm liên hoan văn nghệ được diễn ra giữa núi rừng Đại Ngàn thiếu thốn ánh sáng nên cần đốt đuốc cho sáng. Khi ánh sáng nổi lên là lúc lòng người và mặt người được soi tỏ. Thứ ánh sáng ấy còn gợi lên tình cảm gắn bó giữa những người lính và đồng bào Địa phương. Với cách nói táo bạo, hóm hỉnh, hài hước Quang Dũng đã biến đêm liên hoan văn nghệ thành hội đuốc hoa với sự say đắm ngọt ngào và lãng mạn như đêm Động Phòng Hoa Chúc với những cảm xúc khó tả.
Không chỉ bừng lên ở ánh sáng mà còn bừng lên ở lòng người, tình người trong niềm say mê của “cái men”. Những chàng trai, cô gái mới duyên dáng đằm thắm làm sao. Họ xưng hô với nhau thật trữ tình, cười nói quấn quýt với nhau. Ánh sáng làm cho những bộ quần áo thổ cẩm thật rực rỡ:

“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”

Trang phục truyền thống của vùng núi tây bắc đậm đà bản sắc dân tộc càng làm tôn thêm vẻ đẹp của họ. Và và rừng đã trở thành tâm điểm thu hút với vẻ đẹp xứ lạ phương xa. Trong tâm trí những người lính Tây Tiến, những cô gái dân tộc vốn sống một cuộc đời trâu ngựa, khốn khó như trong những câu chuyện Tày, Thái trong tuyển tập Tây Bắc của Tô Hoài, nay được trả lại sự ngây thơ nét đẹp vốn có, khiến họ như những cô công chúa trong truyện cổ tích: Quần áo kiều diễm, cùng vẻ đẹp ấn tượng. Chính Quang Dũng cũng không khỏi thốt lên trước vẻ đẹp ấy.

“Kìa em” là một lời chào đầy ngạc nhiên và bất ngờ. Từ “em” ở đây có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Em có thể là những cô gái dân tộc Tây Bắc mang trên mình bộ trang phục truyền thống múa hát trong đêm văn nghệ, khiến những người lính say sưa nhìn ngắm, trong khung cảnh nên thơ của miền Sơn Cước, trong những điệu nhạc say đắm lòng người. Em cũng có thể là những cô Văn Công lên vùng biên giới để biểu diễn văn nghệ, làm giàu có thêm đời sống tinh thần của người lính. Em cũng phải chăng là những người lính tự đóng giả thành con gái, tự tổ chức đêm liên hoan này. Những người lính vẫn lạc quan, hóm hỉnh giữa chiến trường ác liệt chính là biểu tượng cho sự không sợ khó khăn gian khổ, thể hiện bản lĩnh kiên cường. Phải chăng tác giả đã miêu tả cảnh đêm liên hoan với những cô gái dân tộc đằm thắm, với tình quân dân ấm áp để làm vơi đi nỗi nhớ về thủ đô Hà Nội hoa lệ, nhớ về những người con gái Hà Thành của những người lính Tây Tiến như Nguyễn Đình Thi đã viết trong bài Đất Nước:

“Những đêm dài Hành Quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mặt người yêu”

Không gian đêm liên hoan văn nghệ không chỉ có ánh sáng tình người và trang phục rực rỡ mà còn có cả những âm thanh của tiếng khèn, tiếng nhạc điệu độc đáo của miền Sơn Cước. Không chỉ có những người lính say sưa ngắm nhìn các cô gái, mà họ cũng trở nên thẹn thùng, e ấp trước cái nhìn tên của các chàng trai. Những hình ảnh ấy càng làm nổi bật thêm sự thơ mộng trữ tình trong đêm liên hoan giữa chốn chiến trường ác liệt. Những người lính như chàng hoàng tử đến đón nàng công chúa trong rừng sâu về về kinh thành xa xôi. Từ Viêng Chăn chẳng phải đã gợi nên sự mộng mơ ấy hay sao.

Đoạn thơ tràn ngập chất thơ của Quang Dũng, đó là sự lồng ghép khéo léo chất lãng mạn, khi làm giảm đi sự khó khăn gian khổ của cái “sốt rét rừng đi dọc tuổi thanh xuân”  (Nguyễn Đức Mậu) ở đoạn trước và làm nên cho vẻ đẹp bi tráng ảnh của hình tượng những người lính Hùng Tráng ở đoạn sau.

Bốn câu thơ ấy đã được Quang Dũng khắc họa thành một bức tranh độc đáo, giàu chất trữ tình, ấy là đêm văn nghệ với không khí tưng bừng, với hội đuốc hoa lãng mạn, ấy còn là hình ảnh người lính lạc quan, vui vẻ, cùng với đồng bào địa phương múa hát, mệt mỏi như được xua tan, nó trái ngược hoàn toàn với hình ảnh:

“Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ”
(Cá Nước – Tố Hữu)

Những dòng thơ tiếp theo lại mang đến cho ta hình ảnh khác, cảm xúc khác với cảnh sông nước Tây Bắc:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Từ người ở đây có thể để chỉ những người chiến sĩ Tây Tiến trên chặng đường hành quân đi qua vùng Châu Mộc. Quang Dũng ngồi bên bờ sông Đáy tưởng tượng lại nhớ ra từng hình bóng, từng dáng hình quen thuộc. “Chiều sương” vừa gợi không gian vừa gợi thời gian, trên đường hành quân sương mù giăng mắc khắp nơi. Sương cũng là đặc trưng cho thiên nhiên vùng Tây Bắc như Chế Lan Viên đã viết:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?”

Thời gian buổi chiều còn là một khoảng thời gian nghệ thuật trong thơ ca, gợi cảm giác u buồn, ảm đạm, thường gợi về nỗi nhớ. Ta thường gặp nỗi nhớ của các cô gái trong ca dao:

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”

Tác giả còn dùng từ “hồn lau” chứ không phải từ bờ lau, bãi lau,… Bởi trong từ “hồn” ấy còn phảng phất anh linh của những người chiến sĩ đã hi sinh cho tổ quốc, đã ra đi chẳng tiếc đời xanh ở cái tuổi hai mươi đầy mộng mơ, hoài bão ấy, họ để lại sau lưng tuổi trẻ, tình yêu, ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc một cách tự nguyện:

“Chúng ta đã đi chẳng tiếc đời xanh
(Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc)
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”
(Trường Sa những người đi ra biển – Thanh Thảo)

Còn những dáng người trên độc mộc kia có thể là hình ảnh những người chiến sĩ Tây Tiến, nhưng cũng có thể là những cô gái “vượt dòng nước lũ” để chở những người chiến sĩ vượt nguy hiểm, băng qua những dòng nước lũ để tiện cho việc hành quân. Đó là những người đồng bào đồng chí của chúng ta, họ là những người không chỉ tiếp thêm sức mạnh tinh thần mà còn giúp đỡ những người chiến sĩ hoàn thành tốt nhiệm vụ Tổ Quốc. Thế mới càng thể hiện được truyền thống đoàn kết của dân tộc ta, cùng nhau hợp sức chiến thắng quân thù. Những con thuyền trôi theo dòng nước lũ gợi nên một điểm nhấn rất “thơ” cho cả bài Tây Tiến. Bên sông là những bông hoa mọc thành từng khóm một, làm ta lại nhớ đến những bông hoa trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

“Rừng xanh hoa hoa chuối đỏ tươi”

Từ láy “đong đưa” ở cuối câu thơ “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” mang đến cho ta một âm điệu chơi vơi, một tâm hồn lãng mạn. Nó kết hợp với từ “hồn” ở câu trên làm cho đoạn thơ gợi cảm giác buồn man mác, một cảm giác buồn mà chỉ có những ai trong hoàn cảnh ấy mới hiểu được.

Nhà thơ như đang tự hỏi chính mình, tự hỏi những người lính Tây Tiến ấy là liệu sau này ra rồi có còn nhớ “hồn lau”, có còn nhớ “dáng người trên độc mộc” ấy nữa hay không. Nó như một sự hoài niệm của tác giả về những năm tháng được cùng nhau sống và chiến đấu với những người đồng đội, những con người ấm áp nghĩa tình nới Tây Bắc, những khó khăn gian khổ trải qua cùng nhau và thậm chí cả những hi sinh âm thầm lặng lẽ, sự hi sinh không tiếc xương máu và tuổi trẻ của những người lính đôi mươi.

Các từ “có thấy”, “có nhớ” mang đến cho người đọc cảm giác hơi buồn man mác, bởi sự hoài nghi của người hỏi rằng: “Liệu người đi Châu Mộc vào buổi chiều sương ấy có còn nhớ những bóng hình kỉ niệm ngày còn chiến đấu bên nhau hay không? Liệu mai này có lãng quên nó như người ta đã lãng quên mảnh trăng nơi cuối rừng”. Những chi tiết ấy càng gợi cho người đọc cảm giác đượm buồn, nhưng cũng đầy tự hào bởi vẫn có những con người trăn trở đến kỉ niệm một thời hào hùng của dân tộc như vậy.
Đoạn thơ với giọng điêu vui tươi, tràn ngập sức sống ở đầu và nỗi buồn man mác, hoài niệm khắc khoải ở cuối, mang đến cho người đọc những cảm xúc khó tả. Những hình ảnh tràn đầy âm thanh ánh sáng rực rỡ, gợi cho ta một Tây Bắc ngập sắc hoa tươi mới, đồng thời việc sử dụng đan xen những hình ảnh gợi tâm trạng buồn cũng là một nét độc đáo của nhà thơ.
Với những đường nét chấm phá độc đáo của Quang Dũng, sự kết hợp giữa cái tưng bừng của đêm liên hoan văn nghệ với chi tiết gây nỗi niềm khắc khoải của cảnh sông nước Tây Bắc, tác giả đã mang đến một vẻ đẹp toàn vẹn cho bức tranh của một phần chặng đường hành quân vất vả, có lãng mạn, nhưng trên hết ấy là tinh thần lạc quan, sự kiên cường và nỗi niềm thương nhớ của những người chiến sĩ anh hùng.

Đọc Tây Tiến ta không chỉ thấy bức tượng đài của người lính Tây Tiến mà còn là vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên Tây Bắc, sự vui vẻ đêm liên hoan văn nghệ. Lịch sử đã đi qua, đất nước bước sang một trang mới, những người lính Tây Tiến năm nào có lẽ đã về với thiên cổ, nhưng hình tượng ấy vẫn còn sống mãi với non sông như câu thơ:

“Tây Tiến biên cương mờ khói lửa
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy con người ấy
Vẫn sống muôn đời với núi sông”

 

Phùng Thị Hồng Nhung – 12A11 – THPT Chuyên Vĩnh Phúc.
Chia sẻ trực tiếp với baihayonline.com

Bài liên quan