baihayonline@gmail.com

Phân tích Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi không chỉ được biết đến là một danh nhân văn hóa, một anh hùng dân tộc mà còn là một đại thi hào của nền văn học nước nhà. Nhắc đến cuộc đời tài hoa của ông không thể quên Bình Ngô Đại Cáo. Áng thiên cổ hùng văn được xem như bản […]

Nguyễn Trãi không chỉ được biết đến là một danh nhân văn hóa, một anh hùng dân tộc mà còn là một đại thi hào của nền văn học nước nhà. Nhắc đến cuộc đời tài hoa của ông không thể quên Bình Ngô Đại Cáo. Áng thiên cổ hùng văn được xem như bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc. Bài cáo là lời ngợi ca tinh thần chiến đấu bất khuất của dân tộc, sự hào hùng vẻ vang của chiến thắng quân Minh đồng thời cũng là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền của dân tộc.

Sau khi nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt và đánh tan 15 vạn quân Minh cuộc kháng chiến của dân tộc đã hoàn toàn thắng lợi. Chấm dứt 12 năm ròng rã phải chịu đựng cảnh bạo tàn của quân xâm lược.

Thừa lệnh của chủ soái Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã soạn Bình ngô Đại cáo để tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đồng thời để bố cáo cho toàn thể nhân dân được biết.

Lời văn chính luận hùng hồn cùng với cảm hứng trữ tình sâu sắc đã tố cáo tội ác tày trời của giặc đồng thời ca ngợi sức mạnh chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn của dân tộc lưu danh muôn thuở.

Mở đầu bài cáo là nguyên lí chính nghĩa dựa trên nền tảng nhân dân của tác giả:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Nhân nghĩa là mối quan hệ giữa người với người dựa trên nền tảng tình thương và đạo lí. Theo ông thì muốn yên dân thì phải lo trừ bạo để nhân dân được sống thanh bình ấm no hạnh phúc. Cứu nước đi liền với cứu dân. Ở đây tác giả đưa ra một nhận định rất độc đáo “nước với dân tuy hai mà một”.

Tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. Và phân định rất rạch ròi ta là chính nghĩa giặc là phi nghĩa. Chiến đấu chống giặc chính là cuộc chiến của nhân nghĩa.

Giọng văn hào hùng của ông đã thể hiện lòng tự hào dân tộc, tự tôn truyền thống văn hiến lâu đời. Đại Việt là một quốc gia riêng, có ranh giới có phong tục tập quán có lịch sử hào hùng tồn tại song song cùng các quốc gia phương Bắc. Chính vì thế các vua nước Nam là một phương chứ không phải nước chư hầu. Tư cách độc lập chủ quyền là một chân lí và không có ai có quyền xâm phạm.

Đạo lí nhân nghĩa đó là một là tối cao và những kẻ xâm phạm đều phải nhận giá đắt. Bằng chứng hùng hồn là thất bại thảm hại của Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã Nhi…. Đồng thời khẳng định chính nghĩa luôn luôn bất diệt.

Đầu tiên tác giả vạch trần âm mưu xâm lược, sau đó lên án chủ trương cai trị và cuối cùng là đanh thép tố cáo tội ác dã man của giặc.

Âm mưu cướp nước đã có từ rất lâu. Nó được thể hiện bởi luận điệu bịp bợm phù Trần diệt Hồ mượn gió bẻ măng cướp nước của kẻ thù.

Ông không tố cáo chủ trương đồng hóa thâm độc mà tố cáo chính sách hà khắc của giặc: Vơ vét của cải, bóc lột sức người, phu phen, hủy hoại môi trường, tàn sát người dân vô tội

Tội ác tày trời của giặc đã hun đúc thành khối căm hờn chất chứa của nhân dân. Mà tác giả đúc kết thành:

“Độc ác thay Trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa hết mùi”

Cái đặc biệt ở đây đó là việc sử dụng những hình ảnh mang tính tương đồng để bóc trần tội ác dã man của quân giặc. Tác giả lấy cái vô hạn của trúc Nam Sơn để so sánh tội ác tày trời của quân giặc, đồng thời lấy cái vô cùng của nước Đông Hải để thể hiện sự dơ bẩn của quân thù. Câu văn đầy tính hình tượng khắc họa tội ác đồng thời thể hiện thái độ căm phẫn tột cùng của ông.

Hình ảnh vị thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Lê Lợi được khắc họa chủ yếu trong những ngày đầu dấy binh đầy gian khổ. Ở đây hình ảnh của ông là sự thống nhất hòa hợp giữa con người bình thường và thủ lĩnh quân đội. Ông chính là linh hồn của cuộc khởi nghĩa đồng thời tác giả cũng thể hiện tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa.

Những ngày đầu khởi binh đầy gian nan vất vả bởi sự chênh lệch quá lớn về mối tương quan giữa ta và giặc. Tuy nhiên vượt qua những khó khăn cuộc khởi nghĩa trở nên ngày càng lớn mạnh và đủ sức phản công giành chiến thắng.

Lê Lợi thể hiện rõ vai trò của một bậc anh hùng. Tâm trí ông luôn canh cánh mối lo đánh đuổi giặc thù cứu nước, cứu dân khỏi ách thống trị lầm than. ông tự tin đặt vận mệnh của quốc gia lên vai. Nhiệt huyết cứu nước trở thành một hoài bão cao đẹp của người anh hùng. Thể hiện qua ý chí chiến đấu quyết tâm kháng chiến và ông đã tìm ra đường cứu nước.

Nguyên nhân của sự thành công trước hết đó là nhờ vào sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa, của ý thức dân tộc, mục đích cuộc chiến là nhằm bảo vệ và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Bảo vệ truyền thống lâu đời của dân tộc. Sau đó là do tài trí mưu lược phẩm chất anh hùng của chủ tướng Lê Lợi

Thứ hai, nó xuất phát từ chính truyền thống đoàn kết trên dưới một lòng của dân ta. chiến lược đánh giặc linh hoạt của nghĩa quân,

Tài năng của chủ tướng thể hiện qua ý chí, quyết tâm cứu nước, thái độ trân trọng và sử dụng người tài.Ở khả năng thu phục nhân tâm nhân tài, tài thao lược xuất sắc và quyết sách đúng đắn. 

Bên cạnh những lời khẳng định chủ quyền đanh thép, tố cáo tội ác tày trời của giặc thì tác giả còn vẽ nên toàn cảnh cuộc kháng chiến những ngày chiến đấu gian khổ sục sôi khẩn trương. Đến giai đoạn hai của cuộc kháng chiến tác giả hào hứng miêu tả khí thế  đạp đầu quân thù và chiến thắng hào hùng của dân tộc. Thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn.

Trong đoạn này từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh nhịp điệu đều mang đậm tính hùng ca. Độ dài ngắn của câu văn được sử dụng linh hoạt nhằm miêu tả khí thế tấn công như vũ bão của quân ta.

Thất bại của quân giặc cũng được khắc họa tài tình bằng thủ pháp liệt kê. Truyền thống của dân tộc tư tưởng hòa bình được bộc lộ rất rõ ở đoạn này.  Giặc đại bại ta mở đường hiếu sinh cấp thuyền, cấp ngựa cho chúng trở về. Tư thế của ta là của người chiến thắng:

Đây cũng là tầm nhìn chiến lược sáng suốt của Lê Lợi tạo nền hòa bình lâu dài giữa hai nước:

“Chẳng những mưu kế kì diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay”

Trong đoạn kết của Đại cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi đã thay mặt cho chủ tướng Lê Lợi trịnh trọng tuyên bố chủ quyền của quốc gia được lập lại một trang sử mới của đất nước đã được mở ra:

Xã tắc từ đây vững bền

GIang sơn từ đây đổi mới

Niềm vui này là kết quả tất yếu của những gian khổ, hi sinh xương máu của bao nhiêu người. 

Kiền khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Muôn thưở nền thái bình vững chắc

ngàn thu vết nhục nhã sạch làu

Xa gần bá cáo

Ai nấy đều hay

Lời tuyên bố kết thúc chiến tranh cảm hứng về nền độc lập dân tộc tương lai tươi sáng của đất nước hòa vào niềm tin vào quy luật tất yếu của lịch sử. Nguyễn Trãi thể hiện quyết tâm xây dựng nền thái bình muôn thuở của nhân dân.

Nhìn chung bài cáo là sự thống nhất hài hòa giữa hai yếu tố chính luận và nghệ thuật. Nhằm tổng kết cuộc kháng chiến vô cùng gian lao và anh dũng của quân dân Đại Việt đồng thời thể hiện tình yêu thương niềm tự hào dân tộc sâu sắc.

Có thể nói bài cáo chính là áng thiên cổ hùng văn được mệnh danh là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc. Như một tượng đài chiến thắng cao vút giữa bầu trời thi ca Việt Nam. Xứng đáng được lưu danh muôn thuở.

Bài liên quan