baihayonline@gmail.com

Phân tích giá trị nghệ thuật trong việc xây dựng tình huống truyện trong chuyện Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân

Phân tích giá trị nghệ thuật trong việc xây dựng tình huống truyện trong chuyện Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân…

4.8/5 - (15 bình chọn)

“Vợ Nhặt” được biết đến là một trong những tác phẩm văn học độc đáo của nhà văn Kim Lân viết về đề tài cuộc sống và con người ở nông thôn. Truyện ngắn ra đời đã gây nên tiếng vang lớn trong nền văn học thời bấy giờ. Và một trong những yếu tố lớn nhất góp phần làm nên thành công của truyện chính là cách xây dựng tình huống truyện đầy độc đáo và tài tình của nhà văn Kim Lân.  Đồng thời qua đó, nhà văn cũng thể hiện được giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm gắn với xã hội thời bấy giờ.

Dàn ý chi tiết

Tại sao lại nói thành công của tác phẩm Vợ Nhặt là dựa vào tình huống truyện? Và nó có điều gì khiến cho độc giả bị thu hút? Trước khi đi sâu tìm hiểu về tình huống truyện trong tác phẩm, chúng ta cần phải hiểu rõ bản chất của tình huống truyện.

Tình huống truyện được hiểu là những sự kiện đặc biệt hay hoàn cảnh đặc biệt trong mỗi tác phẩm. Tác giả sẽ thông qua đó để bộc lộ quan điểm, tư tưởng của mình cũng như tính cách và số phận của từng nhân vật trong truyện. Quan trọng hơn cả, tình huống truyện chính là hạt nhân của truyện. Nó sẽ trở thành điểm nhấn, là lát cắt, cho ta thấy được toàn cảnh bao quát: cuộc sống, xã hội, cách hành xử của mỗi con người trong đó. Vậy trong tác phẩm ” Vợ Nhặt” tình huống truyện có gì đặc biệt, độc đáo?

Ở đời, có biết bao nhiêu chuyện lạ có thể xảy đến. Tình huống trong truyện là anh cu Tràng – một người được miêu tả là xấu xí, nhà lại nghèo. Vậy mà giữa lúc đói khổ lại “nhặt” được vợ. Điều khiến ta phải bận lòng phân vân cho chính anh chàng là thời điểm này nạn đói đang hoành hành. Lúc này, đến bản thân có khi còn không lo nổi vậy mà anh ta còn rước thêm một cô vợ về nhà. Mấu chốt của vấn đề nằm ở đó. Sự mới mẻ và khác lạ này đã tạo nên cho câu chuyện của nhà văn Kim Lân càng thêm sâu sắc, thấm được giá trị nhân đạo.

Bạn đọc có phải hay không đã nhận ra sự khác lạ ngay từ khi đọc nhan đề của tác phẩm.  “Vợ Nhặt” – tại sao lại đặt tên như vậy? Chỉ mới đọc nhan đề thôi, có lẽ bạn đã bị thu hút, nó khiến cho ta nảy sinh cảm giác háo hức muốn đi tìm hiểu câu chuyện đó ngay để có được lời giải đáp. Đó là cái tài của nhà văn Kim Lân. “Vợ nhặt” chứ không phải là “vợ đi cưới về”. Có thể bạn đọc sẽ thấy nghe sao nó có phần chua chát, rẻ rúng. Thế nhưng, chỉ cần đi sâu vào tác phẩm người đọc mới thấy được sự khốn cùng, đồng cảm cho số phận của những con người trong tác phẩm này.

Có rất nhiều nhà phê bình văn học từng nhận xét rằng, Vợ Nhặt chính là tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời với tình huống truyện độc nhất vô nhị. Vừa mang đến cảm giác mới lạ, hấp dẫn lại không mất đi tính chân thực của cuộc sống xã hội thời bấy giờ.

Bối cảnh mà nhà văn Kim Lân xây dựng tác phẩm Vợ Nhặt chính là xã hội Việt Nam năm 1945. Cũng là thời điểm mà nạn đói khủng khiếp xảy đến, cướp đi hơn hai triệu đồng bào ta. Lúc này, mọi thứ dường như trở nên tăm tối u ấm đến tột cùng. Ở đâu, lúc nào cũng bị bao quanh bủa vây bởi cái đói. Lằn ranh giữa sự sống và cái chết của con người hiện hữu quá mỏng manh. Con người trở nên nhỏ bé, khốn cùng. Nó thể hiện rõ qua từng câu chữ ” xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ”. Một cảnh tượng phải nói là ám ảnh đến thê lương. Rơi vào trong cảnh đó, lo cái ăn cho chính mình còn khó. Nào ai nghĩ, ai dám mơ tưởng đến những chuyện khác nữa. Đặc biệt là chuyện “cưới vợ, gả chồng” – vốn cần lo nhiều tiền bạc để làm sính lễ.

Ấy thế mà, giữa cái bối cảnh đầu run rủi ấy, ở xóm ngụ cư lại xảy ra một câu chuyện lạ khiến người ta phải bàn tán xôn xao. Có người tỏ ra vui mừng, nhưng cũng không ít người thở dài xót xa khi anh cu Tràng lấy vợ. Nghe thôi sao đã thấy vừa lạ lùng lại vừa éo le. Trong cảnh đói nghèo như thế, chẳng biết thần chết sẽ gõ cửa lúc nào, gia đình nào. Thế mà cu Tràng lại rước về một cô vợ. Tình huống ấy khiến cho người ta cảm thấy thật hài hước, thú vị nhưng cũng khiến cho người ta phải suy nghĩ, lo sợ cho số phận của cả gia đình Tràng.

Theo thông lệ, khi trưởng thành thì trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng. Nhưng làm lễ nên duyên thì sẽ là lúc mà cuộc sống cảm thấy sung túc, đủ đầy. Nhưng tình huống truyện này lại đi ngược lại với lệ cũ đó. Nó trái ngang và éo le ở chỗ anh cu Tràng lấy vợ vào lúc cuộc sống đáng lo nhất, người ta không muốn lấy nhất.

Thật ra, chuyện còn đẩy kịch tính lên cao khi anh Tràng lấy được vợ khiến người ta phải ngạc nhiên và coi như chuyện lạ bởi anh cu Tràng hội tụ tất cả những điểm của một người khó có thể có vợ. Nhất là khi đặt trong hoàn cảnh lúc ấy. Là như thế nào ư? Là khi nạn đói đang diễn ra trầm trọng, cái chết đeo bám mỗi con người “Người chết như ngả rạ”, “Không buổi sáng …của xác người”.Anh ta không chỉ nghèo, sống giữa một xóm ngụ cư, chỉ có một căn nhà lá lụp xụp với mẹ già mà còn phải đi làm thuê, kéo thóc thuê cho người ta. Đâu chỉ có vậy, vốn dĩ họ làm không đủ để ăn nên mới có chi tiết “bữa đực, bữa cái”. Ngay cả cái danh xưng “ngụ cư” đã cho thấy hoàn cảnh sống của họ khốn khó đến mức nào. Mà ở đời, vốn chẳng ai muốn có cái tiếng “ngụ cư” – bởi nó khiến người ta liên tưởng đến sự khinh miệt, miệt thị đối với những người dân ngụ cư. Bởi thế nên mới có câu:

“Trai làng ở góa còn đông

Cớ sao e phải lấy chồng ngụ cư?”

Đầu tiên là gia cảnh khốn khó. Ăn bữa nay lo bữa mai, rồi còn mẹ già. Không biết có thể chống đỡ qua ngày hay không mà giờ lại thêm một miệng ăn. Điều này khiến người ta phải đặt câu hỏi.

Không chỉ nghèo, mà Tràng còn là một người thô kệch và xấy xí. Dưới ngòi bút phác họa của nhà văn Kim Lân thì anh chàng có ngoại hình với “cái đầu trọc nhẵn”, “cái lưng to rộng như lưng gấu”, “hai con mắt nhỏ tí”, ‘bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vập vạp”…Nếu ngoại hình đã chẳng thể chấm điểm được, phải chăng anh ta được tính nết. Ấy vậy mà đâu phải, đến tính nết còn khiến người ta phải ca thán bởi anh chàng thô lỗ và ăn nói cộc cằn nữa. Với ngoại hình và tính cách như thế, cộng thêm gia cảnh như vậy thì rõ ràng ai cũng sẽ nghĩ rằng Tràng không thể kiếm được một cô vợ.

Tại thời điểm ấy, hoàn cảnh ấy câu chuyện Tràng lấy vợ không khác gì “đèo bòng”, “rước của nợ đời”. Rõ ràng, điều đó sẽ đẩy anh ta vào bi kịch của nạn đói nhanh hơn.

Thế nhưng, ai biết được chữ ngờ. Chính tại thời điểm không mong muốn nhất ấy thì lại có một người phụ nữ đồng ý theo hắn về nhà làm vợ. Cái sự có vợ của hắn đến một cách đầy bất ngờ, giống như một cơn mưa dào bất chợt đến vào giữa trưa hè nóng bức. Ai có thể ngờ rằng, chỉ với một câu bông đùa trong lúc kéo xe thóc, để vơi bớt mệt nhọc Tràng đã hò lên mộ câu đầy tình tứ: “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này,Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì!”. Người nói vô ý mà người nghe lại có ý. Chẳng thế mà cô nàng lại “ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng”. Một cái cười “tít mắt” của Thị đã khiến cho Tràng phải “thích lắm. Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Duyên cớ cũng từ một câu hò mà nên.

Duyên phận đưa đẩy họ đến với nhau cũng là cái đói: Thị gặp hắn lần đầu khi hắn kéo thóc qua dốc, chỉ với câu hò vu vơ, thị đã “ton ton” chạy lại cũng đẩy xe với hắn. Và kể cho tới lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra Thị bởi “hôm nay Thị …xám xịt”. Và cũng chỉ bằng vài bát bánh đúc và một câu nói đùa, Thị đã bằng lòng theo hắn về nhà làm vợ.

Nhà văn Kim Lân đã dựng nên một cốt truyện đầy éo le. Việc lấy vợ là chuyện đại sự, là hạnh phúc lớn nhất của đời người lại diễn ra trong lúc “tối sầm vì đói khát”, bị chen ngang bởi nỗi lo về cái đói, cái chết. Cả hai nhân vật Tràng và Thị đều bị chi phối bởi cái hoàn cảnh tréo ngeo này. Tràng thì “nhặt vợ” về. Còn Thị, Thi cũng thật liều khi nhắm mắt đưa chân theo một người xa lạ, chẳng quen thân. Rồi để đến khi thấy cảnh của Tràng, Thị cũng phải “nén một tiếng thở dài”. Chỉ với câu văn ấy thôi, ta đã thấy được nhân vật có biết bao trăn trở.

Cứ tưởng rằng  ” nhặt vợ” sẽ chỉ có trong những câu chuyện cổ tích. Ấy thế mà nó lại vô cùng chân thực, vậy chuyện cu Tràng lấy vợ trong hoàn cảnh như thế mọi người xung quanh anh ta sẽ phản ứng như thế nào.

Đầu tiên phải kể tới những người dân của xóm ngụ cư. Họ – những người đầu tiên chứng kiến câu chuyện lấy vợ của anh cu Tràng. Họ thấy vợ chồng Tràng người trước kẻ sau, bước chân trở về ngôi nhà của mình. Hai vợ chồng anh cu Tràng đi ngang qua nhưng căn nhà lụp xụp của họ. Khi họ nhìn thấy như vậy,  họ ngạc nhiên “Người trong xóm lạ lắm”, “Họ đứng …bàn tán”. Nhưng kế tiếp mạch câu chuyện, nhà văn Kim Lân lại dẫn dắt bạn đọc đến một tâm thế mới.
Sự ngạc nhiên qua đi,  rồi những người hàng xóm đó cũng hiểu và vui mừng thay cho Tràng, “Những khuôn mặt …hẳn lên”, “có người …rúc”. Phải chăng họ nhận thấy có một chút gì đó tươi sáng thổi qua những ngày đói khát và tăm tối của họ. Niềm vui nho nhỏ cũng trở lại sau chuỗi ngày mà cái chết cứ rập rình từng bữa thông qua tiếng cười rung rúc mà tác giả miêu tả.
Thế nhưng, không phải tất cả mọi người đều vui mừng. Có những người lại thở dài ngao ngán “Ôi chao, … này không”, rồi sau những tiếng thở than ấy họ lại “nín lặng”. Nhà văn Kim Lân đã động pháp, lấy cái tĩnh để làm bật lên cái động. “Nín lặng” thể hiện cho sự trầm mặc không thể nói thành lời, nó đại diện cho nỗi buồn sâu lắng trong mỗi người. Sâu xa hơn nữa, những người dân xóm ngụ cư này đang lo cho Tràng cho Thị, cũng chính là lo cho số phận của họ –  không biết chết sẽ tìm khi nào đối với những người nghèo như họ.

Chuyện lấy vợ của anh cu Tràng đâu chỉ mang lại sự ngạc nhiên cho xóm ngụ cư. Ngay cả đến nhân vật chính là anh ta cũng thảnh thốt bất ngờ. Lấy vợ là chuyện đại sự của đời người vậy mà với anh Tràng nó lại xảy ra chỉ trong vài giờ ngắn ngủi. Thái độ của anh khi đứng trước tình huống của chính mình trải qua rất nhiều cung bậc qua ngòi bút của Kim Lân. Đầu tiên là ngạc nhiên, bất ngờ rồi đến sợ hãi, sau cùng lại toát lên niềm vui, niềm hạnh phúc nho nhỏ. Tại sao tác giả lại xây dựng nhân vật có nhiều cảm xúc đến vậy? Sự biến hóa trong cảm xúc của nhân vật nếu đi theo mạch văn của tác giả độc giả sẽ thấy rằng nó rất hợp lý và logic.

Nhắc đến sự ngạc nhiên của Tràng là bởi chính anh ta cũng chẳng thể ngờ chỉ với vài câu bông đùa cùng dan bát bánh đúc mà Thị bằng lòng theo anh trở về nhà. Đâu ai hiểu rõ hoàn cảnh bản thân mình hơn anh cu Tràng nữa đây, ai dám mang bản thân mình ra đặt cược vào một kẻ nghèo xấu xí, thô kệch như anh. Lại còn sống ở xóm ngụ cư? Rồi trong cái cảnh đói xác xơ cả người nữa…Thế nhưng, cái gật đầu của Thị đã khiến anh cu Tràng trở nên bàng hoàng quá đỗi.

Diễn biến cảm xúc tiếp theo của nhân vật là sự sợ hãi dâng lên trong lòng.  Câu văn diễn tả rất chi tiết điều này: “Mới đầu anh chàng cũng chợn, nghĩ: Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Ai mà chẳng sợ cái nghèo đói, chẳng sợ cái chết. Nội tâm anh day dứt bởi chính anh cũng biết không biết rằng mình có lo nổi cho mình không, huống hồ giờ lại còn lo thêm cho một người khác nữa. Nhưng tất cả nỗi sợ ấy cũng chỉ đến trong vài tích tắc, bởi sau đó hắn đã “chặc lưỡi một cái: chặc, kệ!”. Sau cái tặc lưỡi ấy thì niềm vui nho nhỏ trong lòng anh cu Tràng đã trối dậy. Chẳng thế mà nhà văn Kim Lân lại viết anh chàng “tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”, nhìn nàng dâu mới “ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia”, hắn càng vui sướng “cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình”, “hắn thích chí cười khanh khách”. Niềm vui này nảy nở đến từ việc khi Tràng có được một người vợ, có được hạnh phúc của một gia đình. Ngọn lửa của hạnh phúc đã chiếu vào tâm hồn u tối, ủ dột của Tràng. Điều đó đã khiến cho nhân vật này “hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên đi cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”. Niềm hạnh phúc ấy đến với Tràng bất ngờ quá, nhanh chóng quá, giữa hoàn cảnh đói khát nhất, để đến khi tỉnh dậy vào sáng sớm hôm sau “hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”.

Nhà văn Kim Lân đã khéo léo dựng lên dựng lên tình huống truyện, khiến cho nhân vật bộc lộ được chính nội tâm của mình. Việc anh cu Tràng có vợ đến bất ngờ, nhưng chính điều đó đã mang đến niềm vui, thắp lên tia sáng hạnh phúc, hi vọng cho cuộc đời của anh ta trong lúc đói hoàn cảnh éo le nhất.

Có bậc cha mẹ nào mà không yêu thương con cái, mong cho con có được những điều tốt đẹp, sống cuộc sống hạnh phúc. Bà cụ Tứ – mẹ của Tràng cũng vậy. Người mẹ này cũng luôn đau đáu một nỗi lòng mong cho con trai có một gia đình riêng nhỏ hạnh phúc. Nhưng, trong cái cảnh đói nghèo ấy, bà sao có không hiểu gia cảnh của mình, không hiểu nỗi lòng của con trai bà chứ? Chính vì quá rõ mọi thứ nên khi cu Tràng dẫn người vợ mới về gian nhà ọp ẹp, tâm trạng của bà là những cảm xúc rối bời khó tả.

Cũng không khác gì các tuyến nhân vật trong truyện. Bà cụ Tứ cũng khởi nguồn với sự ngạc nhiên. Bà thấy sự lạ bởi thấy độ của Tràng khi thấy bà trở về ” đon đả hơn ngày thường”. Thái độ này dường như đã ngầm thông báo cho bà rằng có một điều gì khác lạ sắp đến. Rồi vào trong nhà, bà ngỡ ngàng hơn khi thấy một người đàn bà khác đang đứng ngay trên “đầu giường của thằng con mình” và chào bà bằng “u”. Bà cụ tự hỏi chính bản thân mình “Ai thế nhỉ?”. Sau khi nghe Tràng nói lại, bà đã hiểu ra sự tình. Rõ ràng, bất ngờ của cụ Tứ được khắc họa rất chân thực theo tâm lý của một người từng trải và suy nghĩ của một người mẹ. Bà chưa từng nghĩ, đứa con trai của mình lại có thể có vợ giữa lúc tối tăm thế này.

Thế rồi, bà nghe Tràng nói, bà “cúi đầu nín lặng”. Lòng người mẹ già nặng trĩu bao điều. Cụ Tứ hiểu rằng, từ nay đứa con trai của bà đã có người bầu bạn vui cùng. Xong cái niềm vui được nhen nhóm lên ấy sẽ kéo dài bao lâu? Càng nghĩ, bà lại tủi phận cho cái kiếp nghèo đeo đuổi gia đình bà bấy lâu nay “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi… Còn mình thì…”. Những nỗi lo âu giằng xé tâm can người mẹ già “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”. Nỗi lòng của bà chất chứa biết bao sự chua xót cho số kiếp của mình và của những đứa con mình. Than thở rồi đến ân hận, từ trách khi không thể làm tròn được bổn phận của một người mẹ “năm nay đói to đấy, chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá!”.

Thế nhưng, sau tất cả những  cảm xúc dằn vặt, nghẹn ngào ấy, là niềm vui mừng của bà cụ Tứ dành cho đôi trẻ “u cũng mừng lòng”.  Tiếp đến là những lời động viên chân thành, ấm áp  “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may ông giời cho khá…”.Đó cũng chính tất cả tấm lòng của người mẹ già dành hết cuộc đời mình vì con vì cái. Cảm xúc của nhân vật đã được nhà văn khéo léo dẫn dắt, thay đổi.  Bà cụ Tứ sau cùng lại là gieo hi vọng, động lực cho vợ chồng Tràng về một tương lai tươi sáng phía trước.

Tất cả tuyến nhân vật mà nhà văn Kim Lân xây dựng trong truyện Vợ nhặt đều có một tâm trạng, phản ứng khác nhau trong sự kiện anh cu Tràng lấy vợ. Trong cảnh nghèo đói, nay sống mai chết ấy không chỉ toàn là sự bi ai, mà nó toát lên niềm vui, hạnh phúc gia đình. Điều này thể hiện rất rõ qua nhân vật Tràng, bà cụ Tứ và Thị.

Thành công của tác phẩm chính là nhờ vào cách xây dựng tình huống truyện tài tình và linh hoạt của tác giả Kim Lân. Nó đã góp phần là nổi bật lên chủ đề của tác phẩm, đồng thời giúp nhà văn khai thác được thế giới nội tâm các nhân vật chân thực và sâu sắc. Các nhà phê bình văn học đã ngợi khen nhà văn Kim Lân đã dựng nên một tình huống truyện độc nhất vô nhị: Nó làm sống dậy tình cảm con người trong nạn đói năm 1945, vừa thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước những số phận tăm tối của con người trước cách mạng tháng Tám. Vợ Nhặt đã thành công gieo vào lòng người đọc những cảm xúc khó tả, ghi dấu ấn khó có thể phai nhạt.

Vợ nhặt là tác phẩm thể hiện được giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Gía trị hiện thực được nhà văn Kim Lân miêu tả ró nét về tình cảnh người dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945, có thể gói gọn trong năm chữ ” khung cảnh đầy thê lương”. Khi mà cái đó dồn đuổi con người ta đến cùng, khiến cho nhân cách của con người có thể bị bóp méo. Biến những điều hạnh phúc đẹp đẽ nhất trở nên mong manh. Thông qua đó, tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít. Bên cạnh đó, độc giả cũng nhận thấy giá trị nhân đạo cao cả được phản ánh rõ nét. Đó là tình người đẹp đẽ qua cách ứng xử của các nhân vật. Gieo vào lòng người niềm hi vọng về một tương lai tốt đẹp phía trước nơi có ngọn cờ Cách mạng.

Kim Lân – cây bút tài năng trong nền văn học cách mạng đã cho độc giả thấy được một cái nhìn chân thực về cảnh đời, cảnh người trước cách mạng tháng Tám với tác phẩm Vợ Nhặt. Tình huống truyện vừa éo le, vừa lạ lùng những gieo vào lòng bạn đọc biết bao cảm xúc khó diễn tả. Gấp trang sách lại mà lòng ta còn đau đáu bao điều.

 

 

4.8/5 - (15 bình chọn)

Bài liên quan