baihayonline@gmail.com

Phân tích hình tượng người Nông dân yêu nước trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

4.9/5 – (18 bình chọn) Nguyễn Đình Chiểu (1822 -1888) là một nhà nho yêu nước căm thù giặc sâu sắc. Cuộc đời của ông đã trải qua rất nhiều bi kịch và bất hạnh. Chính vì thế nên ông cảm nhận sâu sắc nỗi đau mất nước khi thực dân Pháp sang xâm lược […]

4.9/5 - (18 bình chọn)

Nguyễn Đình Chiểu (1822 -1888) là một nhà nho yêu nước căm thù giặc sâu sắc. Cuộc đời của ông đã trải qua rất nhiều bi kịch và bất hạnh. Chính vì thế nên ông cảm nhận sâu sắc nỗi đau mất nước khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta. Và Văn tế nghĩa sĩ Cần GIuộc chính là một bài văn tế thể hiện tình thương xót vô hạn những nghĩa sĩ đã hi sinh về đất nước đồng thời cũng khắc họa vẻ đẹp chân thực bi tráng nhưng không kém phần hào hùng của người nông dân thời bấy giờ.

Năm 1859 thực dân Pháp tràn vào chiếm đóng Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu tạm lui về Cần Giuộc để lánh tạm. THực dân Pháp sau khi chiếm đóng thành Gia Định đã mở cuộc càn quét xuống các vùng lân cận trong đó có cả Cần Giuộc. Những người nông dân ở đây đã đứng dậy cùng nhau đấu tranh. Họ gia nhập nghĩa binh và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Trong số đó nhiều người đã anh dũng nằm xuống. Những tấm gương đó đã trở thành tấm gương, niềm cảm kích cho người ở lại. Và để ca ngợi những người anh hùng đã hi sinh trong trận chiến đêm ngày 16/11/1861, Tuần phủ Gia Định lúc bấy giờ là Đỗ Quang đã giao cho Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Như một tiếng khóc thương vô hạn những con người anh hùng đồng thời cũng khắc họa vẻ đẹp chân thực bi trang hào hùng của những người dân yêu nước.

Mở đầu bài Tế có câu:

Hỡi ôi

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ

Khi giặc tràn vào tiếng súng rền vang khắp nơi. Và cũng trong thời khắc cam go đó tình yêu nước của những người dân chân chất mới được thể hiện, bùng cháy lên vẻ đẹp tâm hồn của họ mới được bày tỏ cùng trời đất.

Tấm lòng yêu nước của người dân chân đất càng được thể hiện và khắc họa rõ rệt thông qua những câu sau:

Nhớ lính xưa:

Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó,

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó…

Trước đây, những con người ấy vốn chỉ là những người nông dân chân chất quanh năm chỉ biết cui cút làm ăn, họ cũng phải lo toan cái ăn cái mặc cho gia đình mình. Suốt ngày chỉ biết “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” làm bạn với cuốc, xẻng, con trâu,  ruộng đồng… nào đâu đã biết đến cung ngựa, trường nhung hay tập mác, tập cờ…. thế nhưng khi tổ quốc gặp lâm nguy khi mảnh đất quê hương bị dày xéo họ sẵn sang lên đường đánh giặc. Họ ngóng trông hiệu lệnh của triều đình “trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Thì cái bi kịch lại xót xa ở chỗ triều đình nhu nhược không hiểu lòng dân yêu nước….

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ

Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan

Ngày xem ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cổ.

Hình ảnh người nông dân yêu nước hiên lên thật quả cảm hào hùng. Lòng yêu nước thiết tha xuất phát từ chính trái tim của họ trở nên thật đẹp đẽ ấm áp và lấp lánh. Vẻ đẹp toát lên từ chính lòng căm thù giặc sục sôi. Biến thành hành động vùng lên vô cùng quất khởi:

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình:

Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Ngược trở về những tác phẩm miêu tả các cuộc chiến tranh phi nghĩa ngày xưa, người nông dân chân bước xuống thuyền mà nước mắt như mưa. Thế còn ở đây người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu có một tâm thế hoàn toàn khác. Họ tự giác tự nguyện đứng lên để bảo vệ bờ cõi giang sơn, tổ quốc. Đây chính là nét đẹp bản chất trong hành động của người nghĩa sĩ Cần GIuộc.

Đến đây ta lại càng cảm phục tinh thần chiến đấu bất khuất của những người anh hùng áo vải. Đối mặt với giặc với vũ khí hiện đại tối tân đạn to, đạn nhỏ, tàu thiếc, tàu đồng… đội quân Cần giuộc chỉ có một mang áo vải, một ngọn tầm vông, chỉ có lưỡi dao phay và những hỏa mai đánh bằng rơ, con cúi…Thế nhưng nó không hề khiến quân dân ta nao núng thậm chí nó càng làm khắc họa tính bất khuất hiên ngang và lòng yêu nước sâu nặng của dân tộc ta.

Chỉ với những vũ khí thô sơ như:

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia,

Gươm đeo dùng bằng lười dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh..

tình yêu nước đã tạo nên một sức mạnh to lớn một điều diệu kì để đánh tan ý chí xâm lược của quân giặc ngoại xâm. Nó chính là vẻ đẹp rực rỡ hào quang chói lòa của chủ nghĩa yêu nước làm lu mờ đi thời kì đen tối của lịch sử mất nước cuối thế kỉ 19.

Cảm xúc chủ đạo mà Nguyễn Đình Chiều sử dụng trong bài Tế đó là bi tráng, lời văn rắn rỏi âm điệu sôi sục dồn dập, Nghệ thuật đối được sử dụng một cách hiệu quả. Nó tạo thành một âm hưởng hào hùng phấn khúc của một thiên anh hùng ca tuyệt diệu. Ngòi bút của ông hoàn toàn xứng đáng với hành động cao cả của người nông dân yêu nước.

CÓ thể nói dù sau này dẫu thời gian qua đi thì áng Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu vẫn để lại cho người đời sau nhiều cảm xúc sâu lắng. Đây chính là tình yêu đất nước sâu sắc cũng như ca ngợi sự hiên ngang bất khuất của những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Đồng thời cũng là sức mạnh tinh yêu nước nồng nàn của người dân trong thế kỉ trước.

4.9/5 - (18 bình chọn)

Bài liên quan