baihayonline@gmail.com

Phân tích Phú sông Bạch Đằng của tác giả Trương Hán Siêu

4.9/5 – (30 bình chọn) Nhắc đến Trương Hán Siêu là nhắc đến một danh nhân văn hóa nổi tiếng dưới thời Trần. Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm Phú sông Bạch Đằng, một áng văn trung đại thể hiện tình yêu nước sâu sắc, niềm tự hào dân tộc cùng chiến […]

4.9/5 - (30 bình chọn)

Nhắc đến Trương Hán Siêu là nhắc đến một danh nhân văn hóa nổi tiếng dưới thời Trần. Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm Phú sông Bạch Đằng, một áng văn trung đại thể hiện tình yêu nước sâu sắc, niềm tự hào dân tộc cùng chiến công hiển hách trên dòng Bạch Đằng. Bài phú chứa đựng giá trị tư tưởng nhân văn sâu sắc, đạo lý bất khuất của dân tộc Việt Nam.

Mở đầu bài Phú là lời giới thiệu của nhân vật song đây cũng chính là tác giả một người có tâm hồn ưa du ngoạn tự do và phóng khoáng.

“Khách có kẻ

Giương buồm giong gió chơi vơi

Lướt bể chơi trăng mải miết”

Là một người ưa sự “xê dịch” nhân vật khách đã đi qua biết bao nhiêu danh lam thắng cảnh. Đó là những địa danh nổi tiếng ở Trung Hoa như: Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… hay khắp dẻo đất Đai Việt như Đông Triều, Đại Than… Thế nhưng khi dừng chân tại Bạch Đằng đứng trước dòng sông anh hùng này nhân vật khách như được chìm đắm trong không gian cảnh sắc muôn màu nơi đây.

Cách nói cường điệu “Sớm Nguyên Tương chiều Vũ Huyệt” hành trình của nhân vật chỉ kéo dài trong một ngày mà thôi. Không gian thời gian của cuộc hành trình nâng tầm vóc của khách say sưa chủ động với thiên nhiên.

Dòng sông Bạch Đằng với cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ, hùng vĩ. Tuy hiểm trở nhưng lại rất thơ mộng hữu tình.

“Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu

Nước trời một sắc

Phong cảnh ba thu”

Bên cạnh đó hình ảnh dòng Bạch Đằng còn hiện lên với cảnh vật hoang vu hiu hắt:

“Bờ lau san sát

Bến lách đìu hiu

SÔng chìm giáo gãy

Gò đầy xương khô

Buồn vì cảnh thảm

Đứng lặng giờ lâu”

Đó là khung cảnh của chiến trường xưa, nơi đã diễn ra những trận đánh oanh liệt của dân tộc trong lịch sử giữ gìn bờ cõi của dân tộc. Cảnh vật như thấm vào từng ngóc ngách tâm tư của tác giả. Buồn thương, tiếc nuối cho cảnh vật cho những người anh hùng dân tộc đã ngã xuống, tư thế “đứng lặng giờ lâu” cho thấy nhà thơ đang chìm đắm vào thế giới nội tâm của mình, ngậm ngùi và đau xót.

Hình ảnh các bô lão xuất hiện đã mang đến câu chuyện chiến tích oanh liệt trên dòng Bạch Đằng:

“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã

Cũng là bãi đất xưa, Ngô chúa phá Hoằng Thao…”

Các bô lão không chỉ kể ra những chiến công tiêu biểu lừng lẫy lịch sử mà còn tái hiện một khung cảnh chiến trường xưa đầy oanh liệt hào hùng với “thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới”, “hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”. Hơn thế nữa trận chiến còn diễn ra vô cùng oanh liệt và căng thẳng “ nhật nguyệt chừ phài mờ”, “trời đất chừ sắp đổi”….Quân giặc tuy hống hách hung tàn nhưng cuối cùng chúng cũng phải khuất phục trước khí thế hào hùng của quân ta. Đó là thất bại nhục nhã và ê chề mà nguyên nhân do:

“Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở

Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an”

Trong đó yếu tố thiên thời địa lợi nhân hòa và yếu tố con người đóng vai trò quan trọng nhất. Đặc biệt linh hồn của trận chiến là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được so sánh với hình ảnh những người anh hùng thế hệ xưa như một sự khẳng định tài năng và anh minh của anh.

Hai bài ca cuối chuyển sang thể lục bát là bài ca của bô lão và lời ca của nhân vật khách:

“Sông Đằng một dải dài ghê

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”

“Anh minh hai vị thánh nhân

Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao”

Lời ca của các bô lão không chỉ là ca ngợi non sông đất nước thể hiện niềm tự hào về dẻo đất anh hùng mà còn là đúc kết muôn thưở về quy luật cuộc đời. Kẻ bất nghĩa ắt sẽ tiêu vong người anh hùng sẽ được lưu danh muôn thưở. Ca ngợi sự anh minh của hai vị Vua Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông đồng thời là bài ca về sự yên bình của dân tộc.

Nhìn chung bài phú có kết cấu vô cùng chặt chẽ, cách kể sinh động. Tác giả đã xây dựng hình tượng nhân vật vô cùng sinh động mang đầy triết lí. Ngôn ngữ sử dụng trong bài phú rất trong sáng, cô đọng và hào hùng.

Có thể nói áng phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu chính là một bài ca ca ngợi tổ quốc, niềm tự hào sâu sắc về dân tộc. Nó sẽ sống mãi lưu danh cùng thiên cổ. Trở thành áng văn phú mẫu mực cho ngàn đời sau.

 

4.9/5 - (30 bình chọn)

Bài liên quan