baihayonline@gmail.com

Phân tích tình huống truyện trong Vợ nhặt của Kim Lân (Dàn ý chi tiết)

Phân tích giá trị nghệ thuật trong việc xây dựng tình huống truyện trong chuyện Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân…

4.9/5 - (10 bình chọn)

Đề bài: Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân

Bài văn mẫu tham khảo: Phân tích giá trị nghệ thuật trong việc xây dựng tình huống truyện trong chuyện Vợ Nhặt của nhà văn Kim Lân

1. Mở bài

– Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Nạn đói năm 1945 cướp đi hơn hai triệu đồng bào ta.
– Kim Lân đã dựng lên một tác phẩm với một tình huống truyện đặc sắc miêu tả. Thông qua đó nói rõ hiện thực cuộc sống, con người trong cảnh đói lầm than năm 1945.

2. Thân bài
a. Tình huống truyện là gì?

– Là sự kiện đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt trong tác phẩm, qua đó tác giả muốn bộc lộ quan điểm của mình cũng như tính cách, số phận của các nhân vật.
– Tình huống truyện là hạt nhân, lát cắt chân thực của cuộc sống. Qua đó, tác giả cho chúng ta thấy được một phần của cuộc sống xã hội, con người lúc bấy giờ.

b. Tình huống truyện trong Vợ nhặt

– Được thể hiện ngay từ nhan đề của tác phẩm: “Vợ Nhặt”.

– Nhan đề với từ “nhặt”: gợi lên sự tò mò, hấp dẫn cho tác phẩm đồng thời cũng là nét độc đáo, gây ấn tượng sâu sắc.

– Nội dung tình huống truyện được xây dựng: Một anh cu Tràng xấu trai, nghèo lại, cộc cằn và thô lỗ lại “nhặt” được cô vợ giữa lúc nạn đói năm 1945 đang hoành hành dữ dội.

c. Phân tích tình huống truyện

– Bối cảnh của tình huống truyện:

+ Bối cảnh: Nạn đói năm 1945 đang diễn ra. Kết quả là có hơn hai triệu người chết đói.

+ Mỗi câu từ trong tác phẩm đều gợi lên sự u ám, cái chết luôn rình rập.

– Tình huống truyện độc đáo: Lạ Lùng và Éo Le.

* Sự Lạ lùng thể hiện rất rõ qua tình huống của truyện: Trong cảnh nghèo khó, đầy run rủi ấy, con người còn chẳng thể lo nổi cho bản thân, ấy vậy mà anh cu Tràng còn rước về một cô vợ. Phân tích các chi tiết liên quan đến nhân vật Tràng để chứng minh luận điểm này.

+ Nhân vật Tràng về ngoại hình hội tụ tất cả những yếu tố khó có thể lấy vợ: ngoại hình xấu xí “cái mặt thô kệch”, “đôi mắt nhỏ tí”, “cái lưng to như lưng gấu”, … cùng với tính cách có phần cộc cằn, thô lỗ.

+ Gia cảnh của Tràng: Nghèo. Anh ta phải đi làm thuê nuôi mẹ già, có một căn nhà lụp xụp ở một xóm ngụ cư.

+ Và quan trọng là nạn đói đang diễn ra trầm trọng, cái chết đeo bám mỗi con người “Người chết như ngả rạ”, “Không buổi sáng …của xác người”.

=> Cộng cả ba điều trên: Rõ ràng với ngoại hình, tính cách, gia cảnh và tình cảnh như hiện tại, Tràng không thể kiếm được một cô vợ.

+ Thế nên, chuyện Tràng lấy vợ ở hoàn cảnh hiện tại không khác gì “đèo bòng”, “rước của nợ đời”.

=> Nhưng Tràng lại có vợ trong lúc không ai ngờ nhất, trong hoàn cảnh mà cuộc sống đang phải giành giật từng ngày. Đây chính là cái lạ của tình huống truyện “Vợ Nhặt”.

* Cái éo le:

+ Việc lấy vợ là chuyện đại sự, là hạnh phúc lớn nhất của đời người lại diễn ra trong lúc “tối sầm vì đói khát”, bị chen ngang bởi nỗi lo bởi cái đói, cái chết.

+ Duyên phận đưa đẩy họ đến với nhau cũng là cái đói: Thị gặp hắn lần đầu khi hắn kéo thóc qua dốc, chỉ với câu hò vu vơ, thị đã “ton ton” chạy lại cũng đẩy xe với hắn.

+ Lần thứ hai gặp lại, Tràng không nhận ra Thị bởi “hôm nay Thị …xám xịt”. Và chỉ bằng vài bát bánh đúc và một câu nói đùa, Thị đã bằng lòng theo hắn về nhà làm vợ.

– Phản ứng của mọi người khi Tràng lấy vợ:
* Những người dân ở xóm ngụ cư:

+ Họ ngạc nhiên “Người trong xóm lạ lắm”, “Họ đứng …bàn tán”.

+ Thế rồi họ hiểu và vui mừng thay cho Tràng, “Những khuôn mặt …hẳn lên”, “có người …rúc”.

+ Nhưng có những người lại thở dài ngao ngán “Ôi chao, … này không”, bởi họ lo cho Tràng cho Thị, lo cái chết sẽ tìm đến những con người nghèo như họ.

* Đối với Tràng:
+ Ban đầu là sự ngạc nhiên khi chỉ bằng một câu nói đùa “này nói đùa …cùng về” với dăm ba bát bánh đúc mà Thị đã bằng lòng theo Tràng về nhà.

+ Tiếp theo là nỗi sợ hãi, cái “chợn”: “Nói thế Tràng …thật”, “Thóc gạo …đèo bòng” , thế nhưng nỗi sợ ấy qua nhanh Tràng “chặc lưỡi: chặc, kệ”

+ Sự vui mừng khi cái khao khát về hạnh phúc gia đình được hiện thực hóa “hắn tủm tỉm … lấp lánh”, nhìn Thị “ngượng nghịu…chân kia”, hắn thích chí “cười khanh khách”.

+ Nỗi sợ về cái đói, cái chết đã bị niềm hạnh phúc gia đình, cái trách nhiệm đẩy lùi “Trong một lúc Tràng hình như …đi bên”.

+ Niềm hạnh phúc ấy khiến Tràng cứ ngỡ không có thật “hắn vẫn …không phải”.

=> Niềm vui, niềm hạnh phúc đến với Tràng bất ngờ, nhanh chóng, trong lúc đói khát nhất, trong hoàn cảnh éo le nhất.

* Bà cụ Tứ:
+ Bà vô cùng ngạc nhiên trước thái độ của Tràng, băn khoăn hỏi han.

+ Bà càng ngạc nhiên hơn khi thấy một người đàn bà khác trong nhà mình và chào bà bằng u “quái sao …thế kia?” => bà ngạc nhiên vô cùng.

+ Thế rồi khi nghe Tràng nói, bà “cúi đầu nín lặng”, bà “vừa ai oán … con mình” =>Sự tủi phận của một người mẹ không làm tròn được bổn phận của mình “Chao ôi …còn mình thì …”

+ Rồi bà cũng “mừng lòng”, vui lòng với người dâu mợi, khuyên nhủ hai đứa con với những lời lẽ lạc quan “Nhà ta nghèo …ba đời”.

+ Những giọt nước mắt của người mẹ già thương con “Chúng mày …thương quá!”.

– Ý nghĩa của tình huống truyện:

+ Làm nổi bật chủ đề của tác phẩm, đồng thời tạo điều kiện để nhà văn khai thác nội tâm các nhân vật.

+ Kim Lân đã dựng lên một tình huống truyện độc nhất vô nhị: làm nổi bật tình cảnh của con người trong nạn đói năm 1945, vừa thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước những số phận tăm tối của con người trước Cách mạng tháng Tám.

+ Tình huống truyện éo le gieo vào lòng người đọc những cảm xúc khó tả.

– Truyện mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc:
* Về giá trị hiện thực:

+ Tình cảnh người dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945

+ Cái đói dồn đuổi con người, bóp méo nhân cách, biến những hạnh phúc đẹp đẽ nhất trở nên mỏng manh.

+ Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít

* Giá trị nhân đạo:

+ Tình người đẹp đẽ qua cách ứng xử của các nhân vật

+ Gieo vào lòng người niềm hi vọng về một tương lai tốt đẹp phía trước nơi có ngọn cờ Cách mạng.

3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề.

4.9/5 - (10 bình chọn)

Bài liên quan