baihayonline@gmail.com

Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

Hình ảnh người lính Việt từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều tác giả. Mỗi hình ảnh, mỗi câu thơ, đoạn văn đều làm sáng lên hình ảnh những người lính Việt mộc mạc, giản dị nhưng cũng rất bất khuất, sống tình cảm nhưng sẵn sàng xả thân vì […]

Hình ảnh người lính Việt từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều tác giả. Mỗi hình ảnh, mỗi câu thơ, đoạn văn đều làm sáng lên hình ảnh những người lính Việt mộc mạc, giản dị nhưng cũng rất bất khuất, sống tình cảm nhưng sẵn sàng xả thân vì quê hương, đất nước. Giữa rất nhiều tác phẩm như vậy trong rừng hoa văn học Việt Nam, bài thơ Tây Tiến là một bông hoa tiêu biểu. Tác phẩm ra đời đã từ rất lâu, nhưng đến tận bây giờ đã qua hơn nửa thế kỉ mà chất thơ, sự lãng mạn hòa trộn với sự hào hùng toát ra từ nó vẫn khiến bạn đọc phải say lòng. Tây Tiến khắc họa chân thực, làm sống dậy tượng đài người lính – những con người rất thật, rất đẹp và sẽ mãi trường tồn với thời gian!

Bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng ra đời hết sức đặc biệt. Tại sao lại nói nó đặc biệt. Câu trả lời sẽ được dần hé lộ. Tác phẩm vừa là nỗi lòng, vừa ghi lại dấu ấn một thời gắn bó của nhà thơ khi ở đơn vị. Tây Tiến là một đơn vị bộ đội được thành lập vào năm 1974 trong thời kháng chiến chống Pháp. Nhiệm vụ của đơn vị là phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao sinh lực địch ở vùng Thượng Lào, đồng thời trấn giữ vùng Tây Bắc của tổ quốc và biên giới Việt Lào. Bài thơ được sáng tác vào cuối năm 1948 khi Quang Dũng – từng là đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến vì yêu cầu của nhiệm vụ nên phải chuyển sang đơn vị khác. Tựa đầu của bài thơ vốn là “Nhớ Tây Tiến”. Về sau đổi thành Tây Tiến. Chắc có lẽ sẽ từng có bạn đọc thắc mắc rằng vì sao tác giả lại đổi tên như vậy? Trên thực tế, khi đọc cả bài thơ, chiêm nghiệm bạn sẽ nhận thấy rằng dù là “ Nhớ Tây Tiến” hay chỉ là “Tây Tiến” thôi thì xuyên suốt bài thơ tác giả đều bộc bạch “nỗi nhớ da diết” của mình. Bởi vậy mới nói “Nhớ” không cần phải nói thẳng ra mà trong tâm cân mỗi câu chữ, đọc là đã thấy rồi!

Hình ảnh người lính trong Tây Tiến được nhà thơ Quang Dũng xây dựng đẹp đến lạ. Vẫn là hình tượng những người lính được khắc họa. Nhưng sự thu hút đến từ cách tác giả gợi lên hình ảnh người lính của binh đoàn Tây Tiến thật chân thực, rạng ngời. Không phải có đau thương, không có bi lụy, cũng chẳng có những lời hô hào khoa trương. Họ – những người lính Thủ đô đi vào cuộc kháng chiến mang theo cả cái chất thơ, sự lãng mạn và mộng mơ của những chàng trai Hà Thành. Chỉ đơn giản như vậy thôi sao? Thế thì đâu có gì đặc biệt, đúng không nào.  Câu trả lời là không, tất nhiên là không. Hãy đi sâu hơn vào từng vần thơ để thấy được rõ hơn cái đẹp, cái lạ đó.

Mở đầu bài thơ, hình ảnh người lính Tây Tiến đã hiện lên thông qua một dòng hồi tưởng chứa đầy cảm xúc của nhà thơ. Đây cũng là một nét khác biệt khiến người đọc khắc sâu hơn với tác phẩm:

“Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Rõ ràng, chỉ cần đọc lên thôi bạn đã thấy như một lời mời gọi mang tên nỗi nhớ. Quang Dũng đang gợi nhớ về một thời quá khứ. Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong bài thơ không phải là một người lính nào đó mà là hình ảnh một con song – Sông Mã. Tuy không thể hiện trực tiếp, nhưng rõ ràng tác giả đã gián tiếp nhắc tới hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến thông qua hình ảnh con sông. Nói rõ hơn về tình tiết này để thấy đây là một cách gợi nhớ gián tiếp có chủ ý. Sông Mã là chứng nhân lịch sử đồng hành cùng binh đoàn Tây Tiến trong suốt quá trình họ đóng quân, làm nhiệm vụ tại đây. Nó cũng được coi như một biểu tượng của trung đoàn.

Từ hiện tại ngẫm về quá khứ, nhà thơ đã không thể kìm nén cảm xúc của mình. Nó là một thứ gì đó rất khó để biểu đạt. Nỗi nhớ “chơi vơi”. Đây là nỗi nhớ như thế nào? Nhà thơ khiến cho người đọc cảm nhận được sự thổn thức, mong ngóng nhưng cũng toát lên sự khao khát. Dường như trong nỗi nhớ ấy có chút gì đó hụt hẫng, nao nao. Thậm chí nó đã thấm vào cảnh vật và con người. Sự nhớ nhung ấy đã ùa về, tạo nên một “Tây Tiến” đầy xúc cảm.

Hình ảnh người lính tiếp nối trong dòng hồi ức của Quang Dũng hiện lên với biết bao khó khăn, gian khổ. Điều này thể hiện rõ qua từng vần thơ:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Vốn dĩ, khi nhắc đến chiến tranh thì sẽ luôn gắn liền với sự đau thương, tang tóc. Đời lính chiến đấu thì càng không thể thoát khỏi những khó khăn, vất vả gian truân. Nhưng những người lính Tây Tiến không chỉ phải chịu những khó khăn chung của đất nước thời ấy, họ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề khắc nghiệt hơn. Chỉ với hai câu thơ bốn nét vẽ, khắc họa chân thực sự cuộc sống gian khó ở đây.

Đó là gì? Là địa hình đóng quân hiểm trở. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” – Nghệ thuật sử dụng những vần trắc liền nhau giống như một đoạn đường gồ ghề, trắc trở. Con đường hành quân của những người chiến sĩ thật chẳng dễ dàng gì. Câu thơ “súng ngửi trời” mang đến một hình ảnh thú vị. Nó vừa mang tính thông minh, hài hước của những người lính Tây Tiến nhưng cũng là hiện thực. Thực ở đây được hiểu là vào những lúc vượt núi, vượt đèo người lính đi sau nhìn người đi trước, mũi súng trên cao giống như in hằn lên bầu trời. Câu thơ ấy cũng gợi cho chúng ta nhớ đến một hình ảnh tương tự mà nhờ thơ Chính Hữu từng khắc họa:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

Cũng nhờ hình ảnh “súng ngửi trời” câu thơ đã làm toát lên những vất vả của người lính Tây Tiến. Những hơn thế nữa là làm rạng lên vẻ đẹp ngạo nghễ, khí phách hiên ngang và đầy cao ngạo của con người. Lấy cảnh của thiên nhiên rộng lớn hoang vắng đối chiếu con người tưởng như nhỏ bé cô đơn của con người nhưng lại ngầm khẳng định tư thế làm chủ. Đặc biệt là khẳng định bản lĩnh, khí thế của những người lính chiến.

Khó khăn đâu chỉ có vậy, nó còn xếp chồng chồng lớp lớp:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngươi”.

Hình ảnh “ thác gầm thét, cọp trêu ngươi” là những dẫn chứng rất sống động về cuộc sống đầy rẫy những hiểm nguy rình rập người lính Tây Tiến. Trong quá trình hành quân, nếu không may trượt chân xuống phía dưới thác kia có khác gì đưa mạng đến nộp cho Diêm Vương. Bởi vậy, chỉ một bất cẩn nhỏ thôi thì sẽ không còn cơ hội nữa. Rồi nơi rừng sâu, hổ đói luôn rình rập, tính mạng có thể bị đe dọa bất cứ lúc nào.  “Chiều chiều” và “đêm đêm” vốn là trạng ngữ chỉ thời gian. Dụng ý của tác giả ở đây là nhắc tới sự tuần hoàn, ngày này qua tháng khác. Những hiểm nguy ở đây đã có từ rất lâu rồi, và nó vẫn sẽ tiếp tục ngự trị. Chính điều này càng khắc họa rõ nét hơn chân dung người lính Tây Tiến thêm mạnh mẽ, hào hùng. Dù hoàn cảnh thiên nhiên có khắc nghiệt đến đâu thì nơi đây vẫn sẽ in dấu chân của họ – nhưng chiến sĩ kiên cường, bất khuất của binh đoàn Tây Tiến.

Nếu như ở trên, nhà thơ Quang Dũng đã ít nhiều phát họa rõ nét cuộc sống gian truân của người lính Tây Tiến thông qua việc miêu tả thiên nhiên, níu rừng. Đến với những câu thơ tiếp theo, tác giả đã giúp người đọc thấy rõ hơn về hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến thông qua những chặng đường hành quân của mình:

“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

“Dãi dầu” cho thấy sự nhọc nhằn của đoàn quân trong quá trình vượt qua bao núi cao, vực sâu hiểm trở. Rồi đến những cảnh dãi nắng dầm sương…Hai câu thơ tựa như đã kí họa đầy sinh động và ấn tượng về người lính Tây Tiến. Dù có rắn rỏi đến đâu thì họ cũng chỉ là những người lính bằng da bằng thịt. Bởi vậy nên họ cũng có những lúc mệt mỏi, họ gục lên ba lô và ngủ. Những giây phút “bỏ quên đời” – không suy nghĩ, không lắng lo. Chỉ là ngủ một giấc để quên đi những khó khăn, hiểm nguy của cuộc chiến. Câu thơ cũng có một hàm ý khác, nó như đang nhắc chúng ta nhớ tới hình ảnh sự hi sinh, cái chết của những người chiến sĩ. Đó là vẻ đẹp bi tráng, sự hi sinh ấy không phải bi ai mà là vô cùng tráng lệ. Hi sinh trong tư thế thoải mái, nhẹ nhõm – gạt đi những kí ức, quên đi những mệt mỏi để dừng chân…

Khó khăn, vất vả là thế nhưng những người lính Tây Tiến vẫn luôn giữ trong mình tinh thần lạc quan, vui vẻ. Điều này thể hiện rõ qua hình ảnh liên hoan đời thường, những đêm văn nghệ tình dân quân:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi “

Hay:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Những vần thơ mang đầy ánh sáng, âm thanh. Nó là sự hòa trộn hài hòa giữa nhạc và thơ. Nếu như ở trên là cảnh những người lính hành quân trên những chặng đường nguy hiểm, gian lao thì…khung cảnh này lại giúp xoa dịu mọi thứ. Động từ “Bừng” được tạo ra như để khơi nguồn cho niềm tin, cho hi vọng. Một bức tranh về cuộc sống hạnh phúc đã được phác họa nên. Gửi vào nơi ấy một chút thơ mộng, giúp xua tan đi những mệt mỏi của người lính trong quá trình chiến đấu. Tất cả tạo nên một cảm xúc đủ da diết, đủ chơi vơi khi nhà thơ nhớ về Tây Tiến.

Thêm một lần nữa, Quang Dũng càng cho thấy cách dùng chất thơ của mình để tô đậm thêm cái phi thường của người lính Tây Tiến, mang đến cho người đọc được vẻ đẹp vừa độc đáo, vừa hiếm có của người lính:

“ Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Binh đoàn Tây Tiến làm sao không đặc biệt cho được? Nhưng đặc biệt ở chỗ nào? Lời giải nằm ở câu “đoàn binh không mọc tóc”. Quang Dũng vậy mà lại gọi binh đoàn của mình bằng cái tên thsu vị như vậy. Thực ra, đó vốn là hình ảnh chân thực. Gian khổ chiến đấu, cuộc sống sinh hoạt không đảm bảo khiến cho tóc của người lính Tây Tiến có thể đã rụng hết.  Đến câu thơ phía sau lại có sự đối lập “quân xanh màu lá” với dữ oai hùm. Rõ ràng nó đang thể hiện sự đối lập gian khổ với khí phách anh hùng không chịu khuất phục thiên nhiên của những người lính Tây Tiến.

Những người lính Tây Tiến không chỉ anh dũng mà họ còn có nhiều mộng mơ, hoài bão. Họ đang khát khao:

“ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Hai câu thơ này đã cho thấy bao tâm nguyện, ước vọng tự đáy lòng của các chiến sĩ dâng lên cả trên ánh mắt. Mắt trừng là một hành động mạnh, nhưng ở đây nó thể hiện cái nhìn đau đáu. Cũng có thể nói là gợi lên nỗi nhớ nhung không thể nguôi ngoai, luôn đau đáu một niềm niềm gì đó.  Chứ mộng trong câu thơ lại như được dùng với dụng ý giấu cảm xúc bên trong. “Dáng kiều thơm” – nỗi nhớ người yêu thật bình dị mà cao quý đến dường nào. Nó càng khiến hình ảnh người lính trở nên gần gũi và bình dị hơn.

Cũng nhờ những nỗi nhớ, những khát khao ấy mà các chiến sĩ Tây Tiến biến nó thành sức mạnh chiến đấu, là điểm tựa vững chắc cho những thanh niên Hà Thành tiến vào cuộc kháng chiến. Họ chứng minh cho câu nói “ lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” là vậy.

Cuộc chiến nào mà không có những đau thương, mất mất. Những người lính Tây Tiến cũng vậy, họ sống bất khuất nhưng chết cũng hiên ngang, anh hùng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đì chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Sự hi sinh của những người chiến sĩ ấy vốn là những mất mát đau thương. Nhưng cái hay của nhà thơ Quang Dũng là ông không tô đậm sự bi ai, sự ai oán ấy mà đặc biệt nhấn mạnh vào khí phách anh hùng của người lính. Họ sống và chiến đấu, hi sinh anh dũng cho quê hương và dân tộc. Họ ngã xuống nhưng không “ tiếc đời xanh”. Những câu thơ rắn rỏi, âm điệu hùng cường như một thước phim quay chậm tái hiện lại những khoảnh khắc bi hùng ấy của người chiến sĩ Tây Tiến.

Hình ảnh “áo bào” vốn là hình ảnh ấn dụ, chiếc áo của các chiến binh thời xưa. Nó gợi đến sự ra đi của người lính. Nhưng hơn thế nữa là nó gắn với hình ảnh thiêng liêng, tạo ra sắc thái trang trọng, giảm bớt sự bi lụy. Về với đất được xem như là hóa thân cho dánh hình xứ sở, khi người lính thực hiện xong nhiệm vụ vinh quang của mình. Một lần nữa, sông Mã lại được nhắc đến. Nó như một chứng nhân lịch sử, chứng kiến sự gian khó khi những người lính sống và chiến đấu, nó cũng chứng kiến sự ra đi, về với đất mẹ của người lính. “Gầm lên khúc độc hành” phải chăng là một hình ảnh kính cẩn đưa tiễn các anh về với đất mẹ. Động từ “gầm” càng tạo nên chất tráng trong bài thơ này.

Hình ảnh người lính trong bài thơ Tây Tiến được nhà thơ Quang Dũng khắc nét rất chân thực và sống động. Đó là những người liến kiên cường, bất khuất, hiên ngang. Nhưng trong họ vẫn giữ chút mộng mơ – hồn nhiên của những chàng trai Hà Thành. Bài thơ càng làm toát lên vẻ đẹp bi tráng của các chiến sĩ Tây Tiến đã hết lòng vì nước vì dân, khắc sâu hình tượng bất tử hóa về phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ vào lòng mỗi bạn đọc. Cũng như mỗi khi nhớ về Tây Tiến, những câu thơ này lại vang vọng về:

“Tây Tiến biên cương mờ khói lửa

Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và con người ấy, bài thơ ấy

Vẫn sống muôn đời cùng núi sông”

Bài liên quan