baihayonline@gmail.com

Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang.

4.9/5 – (12 bình chọn) Huy Cận được biết đến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Nhận xét về ông Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận định “Buồn thương, sầu não là âm hưởng chính khiến “lửa thiêng” như bản ngậm ngùi dài. Tập thơ […]

4.9/5 - (12 bình chọn)

Huy Cận được biết đến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Nhận xét về ông Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận định “Buồn thương, sầu não là âm hưởng chính khiến “lửa thiêng” như bản ngậm ngùi dài. Tập thơ dằng dặc một nỗi buồn nhân thế,một nỗi đau đời”. Và Tràng giang chính là bài thơ tiêu biểu cho nồi sầu vạn cổ đó. Tác giả Huy Cận đã khắc họa thành công vẻ đẹp hiện đại và cổ điển trong bài thơ.

Đầu tiên, thông qua hoàn cảnh sáng tác cũng như nhan đề tác giả đã khắc họa bước đầu nét cổ điển và hiện đại của bài thơ. Theo tác giả, bài thơ là cảnh sông nước mênh mông của sông Hồng gợi tứ. Ông tâm sự ” một chiều mùa thu 1939, tôi đi dạo trên bờ sông Cái bằng xe đạp, có đọn dắt xe đi bộ thấy buổi chiều trên đê và sông đẹp quá: nắng chiều đã nhạt, mây đùn phía núi xe và man mác một nỗi buồn khó tả, nửa như gần gũi, nửa xa vời, quạnh hiu”. Chính vì thế, bức tranh thiên nhiên được khắc họa ở đây đã trở thành cổ điển, mà linh hồn của nó chính là một nỗi buồn đìu hiu mênh mang cô đơn.

Mỗi khổ thơ, tác giả lại điểm thêm một nét buồn man mác, những điều ấy cứ lặp đi lặp lại như sóng nước bát ngát mênh mông, nhưng bao trùm lên là vẻ hoang vắng, tàn tạ lụi tắt bơ vơ…Nỗi buồn đến rợn người của cái tôi cá nhân bé nhỏ trước một không gian ba chiều bao la.

THiên nhiên vẫn luôn là đề tài để các thi sĩ thể hiện cảm hứng bất tận của mình. Thế nhưng, sự xuất hiện của con người, bóng dáng cái tôi thi sĩ là nét mới, hoàn tàn dứt với cái ta cổ kinh trung đại để dấn thân khá phá những chiều khác của nội tâm. Ông đã để lại những dấu ấn khó phai trong trong phong trào thơ mới. Vừa tiếp nôi vừa giữ gìn những nét cổ điển trong thơ xưa lại vừa khám pha cái ngoạn mục mới.  Nhan đề “Tràng giang” xuất phát từ sự biến đổi của ” trường giang”. Từ hán Việt kèm theo âm “ang” đi liền với nhau khiến cho con sông bỗng trở nên dài hơn rộng hơn mênh mang hơn và rợn ngợp hơn. Cùng với đó là đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Được xem như cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nơi người đọc đi vào phân tích và cảm nhận vẻ đẹp của bài thơ.

Bên cạnh đó, vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ này còn được tạo nên từ chính đề tài cũng như cảm hứng sáng tác và chất liệu thi ca. Tràng giang đượm buồn một nỗi sầu vạn cổ, giữa cái tôi bé nhỏ với không gian bao la mênh mông, cái hữu hạn trước thời gian và không gian. Bài thơ chỉ có 4 khổ thôi nhưng lại mở đầu bằng màu sắc chia lìa:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả

Củi một cành khô, lạc mấy dòng”

Ở đây ta chợt nhớ đến những vần thơ Đường với hình ảnh sóng, thuyền, nước….Hình ảnh củi khô ở câu thơ cuối là một hình ảnh độc đáo mới lạ. Bức tranh tuyệt đẹp như thủy mặc ấy lại đượm một nét buồn tê tái.  Những từ láy “điệp điệp”, “song song” càng làm xoáy sâu thêm nỗi buồn đó, nó như kéo dài ra, triền miên thêm. Những khổ thơ tiếp theo càng xoáy sâu nỗi buồn chất ngất ấy:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Những từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” càng làm tô đậm thêm bức tranh thiên nhiên hoang sơ, tiêu điều và cô quạnh đó. Tiếng làng xa vãn chợ chiều, dấu hiệu duy nhất của sự sống của con người dường như cũng mất hút càng làm cho cái tôi trở nên rờn rợn trước bốn bề.

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng 

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Cảm hứng cô độc vẫn bao trùm lên cả bài thơ dường như chưa có điểm dừng, Tạo vật vẫn cứ chảy trôi như vốn dĩ của nó, cứ chia li như nó đã từng. Để rồi trong cái mênh mông ấy con người trở nên nhỏ bé lọt thỏm đến đáng thương. Như một người lữ hành cô độc giữa sa mạc, thời gian vô thủy vô chung. Tiếng lòng thi nhân về tình yêu quê hương được hiện lên ở khổ cuối:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc 

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Trái ngược hoàn toàn với sự hùng vĩ của mây cao, núi bạc là hình ảnh cánh chim nhỏ bé như chìm vào sự vô cùng vô tận của vũ trụ. Lúc này, điểm nhìn của thi sĩ đang có sự chuyển biến. Ông đã chuyển từ cảnh vật mênh mang về nỗi lòng người tha hương. Hai chữ “dờn dợn”  là một nét độc đáo mà Huy Cận tạo nên. Đó là tâm trạng nôn nao, dây dứt triền miên của một người đứng trên quê hương mà lại thấy thiếu bóng quê hương. Bỗng làm ta nhớ đến câu thơ của Thôi Hiệu:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Bên cạnh những yếu tố như tiêu đề, chất liệu thi ca thì thể loại thơ cùng với bút pháp nghệ thuật cũng là một điểm mà Huy Cận tạo nên để thể hiện vẻ đẹp cổ điển hiện đại của bài thơ. Tràng giang mang đậm phong vị cổ điển với cách ngắt nhịp, gieo vần, tả cảnh ngụ tình,… Bên cạnh đó, tràng giang được viết theo thể thơ bảy chữ với những từ ngữ mang dấu ấn cá nhân riêng như ( sâu chót vót,niềm thân mật, dờn dợn…). Sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại vô cùng hài hòa chứ không mang đến cảm giác gượng ép miễn cưỡng. Huy Cận đã mang đến một cách nhìn mới một trải nghiệm mới cho thơ ca Việt Nam.

Có thể nói Tràng giang chính là kết tinh thành công của bút pháp, ngôn ngữ và thể loại. Qua đó, ta thấy được một bức tranh không gian rộng lớn bao la nhưng lại vô cùng đơn độc. Bài thơ cũng góp phần khẳng định chỗ đứng vững chắc của Huy Cận trong làng thi ca Việt Nam.

4.9/5 - (12 bình chọn)

Bài liên quan